Gió cuốn mặt hồ

Gió cuốn mặt hồ

Trịnh Ngọc Lâm 2017-11-18 12:22:01 222 2 0 50

"Dù cho nàng có cách xa ta ngàn vạn tuổi, ta vẫn yêu nàng với tất cả con tim"..... Câu chuyện này tác giả lấy chất liệu từ truyền thuyết của nhân dân Định Tường và thông tin về các danh nhân của huyện trên wikipedia cùng cuốn Địa chí huyện Yên Định...


Chương 4

(*)

- Ái chà chà, mọi người cũng đi nhiều đấy nhỉ?

Phong quay sang tỏ vẻ ngạc nhiên với Đông khi thấy đoàn người đi lễ ở đền thờ khá là đông. Nó đi bên cạnh Lâm Hoàng cũng quay sang nói với Phong:

- Chuyện! Đương nhiên! Đền thờ Ngài là một trong những ngôi đền nổi tiếng và linh thiêng nhất vùng Yên Định này mà!

Lâm Hoàng quay sang mỉm cười, hỏi anh:

- Anh Phong ham tìm hiểu về lịch sử và các danh nhân, anh có biết được con người và sự nghiệp của Ngài không? Hôm nay cũng là lần đầu tiên anh Đông dẫn em vào đây đấy, mà em cũng không phải người Yên Định nên cũng không rõ lắm về thân thế và sự nghiệp của Ngài.

Anh thấy Lâm Hoàng ham học hỏi như vậy thì rất vui mừng, quay sang làm bộ cao giọng:

- Tất nhiên rồi! Anh chỉ sợ có người sinh ra và lớn lên ở Yên Định mà không biết Ngài thôi. Chứ oai danh của Ngài không chỉ nổi tiếng ở cái huyện lẻ này, mà ơn đức của Ngài khắp cõi trời nam luôn.

Đông có vẻ ngứa ngáy với kiểu nói đểu của anh, chắc nó vẫn còn nhớ vụ ban trưa, khi nói chuyện về danh nhân Trịnh Thiết Trường:

- Này này, mày định "múa búa" qua mặt tao sao? Nên nhớ, tao, đã từng là học sinh bốn năm ở trường THCS Lê Đình Kiên, một ngôi trường có tiếng là học ngon lành mang tên Ngài đấy!

Lâm Hoàng cũng chọc quê anh:

- Oa, người yêu em giỏi ghê! Học trường chuyên kia đấy!

Đông cũng không vừa, quay sang Lâm Hoàng:

- Hi hi, dù cho trường Lê Đình Kiên không còn chính danh là trường chuyên nữa, nhưng vẫn là nơi hội tụ những tài năng non trẻ đất Yên Định này đó cô bé à! Người ta thật khéo khi đặt tên Ngài cho cái nơi hội tụ nhân tài!

Lâm Hoàng mỉm cười, đu đưa tay khoác vào tay Đông. Đông tiếp tục quay sang nói với anh:

- Nhà sử học có cần kiểm tra bài cũ không, anh nói cho chú biết này!

Anh cười trừ, đúng là thằng Đông, chắc là về cụ Lê Đình Kiên thì nó phải nắm rõ lai lịch rồi, kiểu gì trường nó chẳng tuyên truyền nhiều. Anh cũng trả lời đại khái, đáp lại vẻ tự tin của nó:

- Thôi, ông giữ lấy sau này truyền cho con cháu, còn phần tôi thì vẫn phải nghiên cứu thôi!

Cả ba người cùng cười, hòa lẫn vào dòng người đi lễ tiến vào khu vực đền thờ.

Từ thị trấn Quán Lào đi vào đền thờ Đại vương Lê Đình Kiên tầm khoảng hai cây, ba người quyết định đi bộ, vừa để ngắm phong cảnh Quán Lào, vừa để cảm nhận được khí thế của ngày lễ tại nơi đây. Với lại, nếu đi xe máy vào thì cũng không biết chỗ nào để gửi cả. Đền thờ nằm ngay đường liên xã, không có chỗ giữ xe, những người đi lễ đa phần ở làng Thiết Đinh và các làng lân cận, họ là con cháu họ Lê và một số họ đã sống lâu đời ở đây, có mối quan hệ mật thiết với họ Lê.

Con đường xuất phát từ sân vận động huyện, tuy nhiên khá tối, có lẽ đây là con đường không được đầu tư, nhưng bù lại có hàng xà cừ cổ thụ vững chãi tỏa bóng, nhìn khá lung linh. Nền đường đã được rải nhựa nay xuống cấp, ổ gà ổ voi nhiều quá. Sâu vào trong nhiều ngôi nhà mới cũng đã bắt đầu mọc san sát, trước kia hai bên đường này đều là đồng ruộng, nay xã họ cắt thành đất ở, nhiều nhà cao tầng đã mọc lên, khá đẹp. Cổng làng Thiết Đinh đón chào khách là một cái cổng xây vào thời mới đây, tuy nhiên cũng đã đủ rêu phong để cảm nhận được một ngôi làng cổ. Đi thêm một đoạn thì đến được ngôi đền.

Cổng đền khá nhỏ, có lẽ người ta chưa quan tâm lắm, nhìn lên mái ngói cũ kỹ, rêu phong đã thấy được nét nguyên sơ của kiến trúc xây đền cũng đã từ lâu. Cũng có thể phong tục người Việt thường xây thấp nhỏ, không kiểu hoành tráng như bên Tàu hoặc các ngôi đền hiện đại. Hai con voi đá được một người con họ Lê cung tiến nhìn khá mới, đây cũng là nét khác với nhiều ngôi đền khác, nhiều nơi người ta toàn dùng hai con sư tử đá canh ngay cổng, một thời rộ lên phong trào vứt bỏ vì nó là nét văn hóa ngoại lai. Hai ông Thiện và Ác đứng sừng sững hai bên, bộ võ phục đặc trưng thời Lê khá gọn gàng, có điều người dân nơi đây đắp ông Ác vẫn còn hơi hiền hiền, phải chăng tấm lòng bình dị và bản chất hiền lành của những người nông dân chất phác làng Thiết Đinh đã ăn sâu vào máu, họ chẳng thể nào làm điều ác với ai.

Đại vương Lê Đình Kiên sinh ngày 20 tháng 9 năm Tân Dậu (3 tháng 11 năm 1621, đời vua Lê Thần Tông) ở Bái Trại (nay là Thiết Đinh, còn gọi là Thiết Đanh), xã Định Tường, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, mất ngày 12 tháng 2 năm Giáp Thân (17 tháng 3 năm 1704, dưới triều vua Lê Hy Tông) tại Phố Hiến (thọ 84 tuổi). Về sau, di cốt của Ngài được cải táng đưa về quê nhà. Ngài làm quan dưới triều Lê trung hưng. Là người có tài về chính trị, quân sự, ngoại giao, ngoại thương, nên Ngài đã dẹp yên và xây dựng Phố Hiến (Hưng Yên) thành nơi phồn hoa đô hội lúc bấy giờ...

Ba người tiến vào, bên trong là một cái sân lát nền bằng gạch bát loại nhỏ, loại gạch này có lẽ thịnh hành từ những năm 90 thế kỷ trước. Phong nghĩ, có lẽ ngôi đền cũng đã được trùng tu nhưng có lẽ chưa xứng tầm với con người tài ba và đức độ như Ngài. Trong sân lúc này đã khá đông người vào lễ, rất nhộn nhịp, Phong quan sát thấy vẻ mặt đôn hậu, hiền hòa của những người dân đang thành kính dâng hương, cảm giác yêu người dân quê biết mấy. Đông và Lâm Hoàng đã đi vội về phía bên trái đền, nơi đặt hai cái bàn nhỏ, một dãy ghế dài cho người dân ngồi nói chuyện. Chỗ này người ta cũng để khá nhiều hương, chắc là của người dân đi vào lễ, ai đến mà không đem thì cũng lấy hương ở đây vào thắp. Lâm Hoàng đưa cho Đông và anh mỗi người chín thẻ hương theo hướng dẫn của bác trông đền, bác này là con cháu của Ngài được xã cử ra trông coi ngôi đền. Anh nhận hương và đi sâu vào phía trong đền. Phía trong nhìn khá uy nghiêm, gồm có ba bàn thờ lớn bằng gỗ. Trên các bàn thờ gỗ đặt đầy các đồ lễ, hương nghi ngút cộng với người lại qua đông như nêm làm cho không khí trong này khá ngột ngạt. Nhưng Phong cũng không quên đọc mấy câu đối trong đền được viết khá trang trọng, treo trên mấy cây cột gỗ:

"Đại đức tứ dân, danh tại sử

Sinh vi lương tướng, tử vi thần.

Nghĩa là:

Đức ở trong dân, danh lưu sử sách

Sống là ông tướng tốt, chết thành thần.

Và câu thứ hai:

Trị sự liêm bình, kim cổ đan thanh tuế tích

Tại nhân đức trạch, Bắc Nam kim thạch minh danh."

Nghĩa là:

Việc cai trị công bằng và liêm chính mãi mãi tiếng ghi sử sách

Đức lớn cho dân cậy, cả Việt Nam lẫn Trung Hoa danh khắc vào đá vàng."

Hai câu đối quả là hay khi đánh giá một người như Ngài. Như anh được biết, Ngài là người có tài về quá nhiều lĩnh vực như chính trị, quân sự, ngoại giao, ngoại thương; chính vì vậy nên Ngài được vua chúa trọng dụng, được thay mặt triều đình giao thiệp và cộng tác với các thương điếm ngoại quốc đến buôn bán ở Phố Hiến, như Hà Lan, Anh, Pháp, Nhật Bản, Bồ Đào Nha...

Suốt 40 năm ở trấn Sơn Nam (từ 1664 - 1704), Ngài ra sức ổn định xã hội, dẹp giặc, trộm cướp không chỉ bằng pháp luật, mà còn bằng cả tấm lòng bao dung nhân ái. Những người dân trước đây vì đói kém, loạn lạc, phải tha phương cầu thực, lưu tán các nơi, Ngài đã tập trung lại, giao đất lập làng, tạo điều kiện làm ăn sinh sống. Ngay cả những người Hoa chạy loạn nhà Thanh sang Đại Việt, cũng được ông chiêu dụ lại, cấp đất cho làm ăn.

Bên cạnh đó, ông còn nổi tiếng là người có tài xét kiện. Bọn trộm cướp truyền tin nhau không dám quấy phá khu vực ông cai quản, có nhiều kẻ có tội gặp ông để đầu thú và xin hứa hoàn lương. Việc kiện tụng nhờ đó cũng tinh giảm. Ngoài ra, ông còn là người có công vận động người dân trồng nhiều nhãn, nay đã thành một loại cây đặc sản của tỉnh Hưng Yên...

Trên tường, tấm bằng công nhận di tích lịch sử nay đã ố mà cũ kỹ, thì ra đền thờ Đại vương Lê Đình Kiên còn được gọi là miếu Anh Linh Vương. Đền thờ đã được xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 9 tháng 9 năm 1994. Anh lấy điện thoại ra chụp lại lấy thông tin làm tư liệu sau này có khi cần, mấy bác đứng cạnh, nhắc anh không nên chụp ảnh trong nơi linh thiêng này, anh đành cất đi. Thực ra anh còn muốn chụp lại hình ảnh mấy câu đối cũng như kiến trúc các điện thờ nữa, nhưng rồi lại thôi.

Ra phía ngoài, còn sáu bát hương ở các ban thờ khác nhau, theo mọi người, Phong cũng đem thắp vào các bát. Lâm Hoàng và Đông vội ngồi quỳ ngay dưới chiếu trước bàn thờ ngoài nhà, ngay phía sát sân. Hỏi ra mới biết là họ đang khấn gieo lấy quẻ cầu may. Anh buồn cười, người ta lại đem những văn hóa lai tạp ghép vào hoạt động của đền thờ. Nhưng vậy mà hay, dù sao nó cũng đem lại cho người dân quê những phút giây thư giãn, nhìn gương mặt hớn hở của Đông là biết, nó cho Lâm Hoàng đọc ké mà khi anh bảo nó cho xem tí thì nó giấu đi ngay, bảo tự rút mà đọc. Anh cười, bảo không thích rồi bước ra ngoài sân ngắm không gian đền. Ngó lên trời cao, ánh trăng tròn đã lấp ló trên tán của cây chay cổ thụ, anh thấy khoan khoái bởi không gian thoáng đãng cảnh đền. Cây chay có quả ăn run rút chua chua khá là ngon, ngày xưa nhà bà ngoại anh cũng có, nay thì cậu làm nhà đã chặt bỏ, tiếc quá.

Đông và Lâm Hoàng cũng ra đến sân, rồi cả ba ngồi bên ghế đá đặt sát rìa tường bao quanh đền thờ. 

- Như vậy hôm nay tôi đã phục vụ ông đi hai đền thờ hai ông Lê - Trịnh nổi tiếng ở đất Ái Châu rồi nhé!

Đông lên tiếng kể công, anh cũng trêu lại nó:

- Kể mà có người hướng dẫn du lịch am tường về các Ngài nữa thì tốt!

- Anh Đông, kể cho anh ấy biết và nói cho em biết với!

Lâm Hoàng dụi đầu vào vai Đông nhõng nhẽo, Phong cũng cười. Thực ra, mấy anh em dưới trường chơi với nhau khá thân. Từ ngày Lâm Hoàng xuống thành phố học, họ đã có những khoảng thời gian gắn bó bạn bè thân thiết với nhau rồi nên cũng chẳng ngại ngùng gì nữa. Đông cũng đằng hắng:

- E hèm, để cho người hướng dẫn du lịch làm việc của mình nhé! - Đông đứng lên, làm điệu bộ khá buồn cười - Xin chào mừng quý vị và các bạn đã đến tham quan và chiêm ngưỡng cảnh quan vùng đất giàu truyền thống văn hóa Yên Định. Trước hết, xin thay mặt chính quyền và nhân dân xã Định Tường, chúng tôi gửi lời cảm ơn đến quý vị và các bạn bớt chút thời gian vàng ngọc đến đây... 

Lâm Hoàng cười khúc khích, Phong cũng buồn cười với điệu bộ của Đông. Đông tự tin trình bày tiếp:

- Quý vị đang có mặt tại đền thờ Đại vương Lê Đình Kiên, một người con tài danh đất Yên Định anh hùng. Cha mất sớm, chỉ còn mẹ, ngài được Tả tướng Hờn ở Tĩnh Gia (Thanh Hóa) nhận về nuôi, cho ăn học, thành tài thì được tiến cử vào triều.

Ngày đó chúa Trịnh chuyên quyền, chiến tranh lại liên miên, khiến nhân dân đói khổ, loạn lạc khắp nơi. Từ trấn Sơn Nam trở ra đến vùng Đông Bắc cứ bị giặc phỉ quấy phá, và trộm cướp nổi lên rất nhiều. Triều đình đã cử nhiều tướng tài, quan giỏi ra cai trị nhưng đều bất lực.

Năm Giáp Thìn (1664), Lê Đình Kiên vâng lệnh triều đình ra làm Trấn thủ trấn Sơn Nam. Tại đây, ông đã ra sức ổn định xã hội, dẹp quân Tàu Ô, trộm cướp, và mở mang Phố Hiến thành nơi phồn hoa đô hội, nên đương thời có câu:

"Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến".

Lâm Hoàng trố mắt lên, thán phục:

- Trời ơi, sao anh giỏi thế! Em không ngờ anh lại thông sử như vậy đấy!

Đông vênh mặt lên, ra vẻ:

- Tất nhiên!

Phong phì cười, vì thực ra các thông tin Đông đọc có ghi ở ngay trên bảng tiểu sử của ngài ở phía tường đối diện. Anh cũng hứng thú:

- Đúng vậy, chúng mình đi lễ hay cúng bái, tham quan ở bất kỳ đền chùa hay miếu thờ ai cũng nên tìm hiểu về nơi ấy, chứ nhiều người cứ đi vái, khấn mà chả hiểu gì, khấn bái đến ai...

- Đúng đấy, đợt mình đi chơi với cơ quan của bố ở Hội An, mấy bác trong đoàn cứ vào mấy hội quán của người Hoa khấn, mà có biết họ là ai đâu, chỉ sợ các bậc thần tiên ấy không biết tiếng Việt...

- Hi hi, anh cứ đùa!

Lâm Hoàng cười, đấm nhẹ vào vai Đông. Phong cũng đồng tình:

- Như đến đây cũng vậy, em cũng nên tìm hiểu về Ngài, không biết thì tra google như anh này. Đây nhé! Trong sách Đại Việt sử ký toàn thư, phần Bản kỷ tục biên (1676 - 1740), có đoạn viết:

... Giáp Thân, [Chính Hòa], năm thứ 25 (1704)... Mùa xuân, tháng hai, Trấn thủ Sơn Nam Thiếu bảo Quận công Lê Đình Kiên mất. Đình Kiên làm Nội thị trong cung cấm, nhiều lần theo (chúa Trịnh) đi chinh phạt, có công lao, ở trấn (Sơn Nam) trước sau đến 40 năm. Ông làm việc chính sự chuộng nghiêm khắc, cứng rắn, (vì vậy) trộm cướp nằm im không dám hoạt động. Kiên nổi tiếng về cai trị. Đến đây chết, 82 tuổi, truy tặng Thái bảo, truy phong là phúc thần.

Ngoài việc Trấn thủ Lê Đình Kiên được triều Lê trung hưng truy phong tước hiệu và phúc thần, lúc bấy giờ người Việt và người nước ngoài ngụ ở Phố Hiến cũng đã dựng bia ghi công ông. Ở nơi ấy hiện vẫn còn 2 tấm bia, một do Trưởng tài Nam Hải là Trần Đế Đào (người Phúc Kiến, Trung Quốc) dựng năm 1723, một do người địa phương dựng vào năm 1727. Nội dung 2 bia cơ bản giống nhau, đều ca ngợi công đức của ông, coi ông ngang với những bậc trung thần nghĩa sĩ ngày xưa.

- Oa, đúng rồi, từ lần sau đi đâu em cũng phải tìm hiểu trước vậy!

Thật vui, hôm nay được đến viếng thăm đền thờ Ngài, cũng nhờ vậy mà anh cũng quan tâm và biết thêm tiểu sử về Đại vương. Đông và Lâm Hoàng rủ về dần, anh cũng đồng ý. Ra đến cổng, anh và Đông thay nhau chụp vài tấm làm kỷ niệm, lúc nãy ở trong đền không dám chụp hình vì đó là nơi linh thiêng. 

Dòng người đi lễ lại qua vẫn còn khá đông, họ còn chen vào giữa làm khi chụp cứ phải chờ. Họ ngó nhìn ba người làm cho cả ba thấy ngại ngùng. Đông và Lâm Hoàng quay đi trước, lẫn dần vào đám đông, anh cũng quay người đi theo. Bỗng nhiên có một bác tuổi tầm trung niên vội vã đi qua, va vào anh làm cho anh đánh rơi cả điện thoại. Bác ấy xin lỗi, anh cúi xuống nhặt, thôi thì cũng phải thông cảm, đường thì đông người, va chạm là chuyện thường. May quá không việc gì, anh dùng tay phủi những bụi đất còn bám trên màn hình. Khi đứng lên thì bác ấy cũng đã đi rồi, thấy bên tay vương một cái khăn màu trắng. Anh ngạc nhiên vì cái khăn này trông khá quen, chắc của ông bác kia đánh rơi. Anh gọi với nhưng không thấy bóng dáng ông bác đó đâu. Nhìn vào cái khăn, anh khá tò mò vì nó có mùi thơm thoang thoảng là lạ mà quen quen. Hình như... anh giở ra xem, thì ra cũng là cái khăn có thêu chữ Hán:

"Đêm nay

Canh ba"

Lâm Hoàng và Đông quay lại cười khúc khích:

- Điện thoại có sao không?

Anh bảo:

- May chẳng việc gì!

Anh định giơ lên hỏi hai người về chiếc khăn, nhưng khi nhìn xuống tay, anh chẳng còn thấy cái khăn đâu nữa.

Trên đường về, Đông và Lâm Hoàng đi khá nhanh làm anh cứ phải lủi thủi theo sau. Lòng anh cũng đang phân vân không biết mình có cơ duyên gì mà hôm nay hai lần bắt gặp chiếc khăn thêu, nhưng rồi bỗng nhiên lại biến mất ngay sau đó. Thật khó hiểu! Hay là... Phải chăng... Nếu thế thì... Không lẽ...?

Lòng xốn xang quá, anh lấy điện thoại, tìm lại bức hình anh chụp hồi đầu giờ chiều khi đến khu cổ mộ. Đúng là chiếc khăn này rồi, vẫn là mấy chữ Hán thêu theo lối cổ ấy. 

- Đông, xem này!

Anh đưa điện thoại cho bạn, Đông quay lại, cầm và xem điện thoại của anh:

- Đẹp nhỉ?

- Thấy lạ không? Anh hỏi.

Đông bình thản như không:

- Lạ gì, ở đây đầy!

- Thật à?

- Ừ, đầy lên, cần không? Mai lấy cho, dễ kiếm mà!

- Đàn ông con trai mà cũng...

- Thật, hoa mẫu đơn ở đây người ta trồng đầy ở đền chùa và nghĩa địa, mà hình như ảnh này mày chụp ở cổ mộ lúc chiều phải không? 

Chú thích:

(*) Thông tin ở chương này người viết khai thác nhiều từ wikipedia.

Đọc tiếp: Chương 5