Gió cuốn mặt hồ

Gió cuốn mặt hồ

Trịnh Ngọc Lâm 2017-11-18 12:22:01 222 2 0 50

"Dù cho nàng có cách xa ta ngàn vạn tuổi, ta vẫn yêu nàng với tất cả con tim"..... Câu chuyện này tác giả lấy chất liệu từ truyền thuyết của nhân dân Định Tường và thông tin về các danh nhân của huyện trên wikipedia cùng cuốn Địa chí huyện Yên Định...


Chương 6

Đúng là cái thằng Đông! Vì gái quên thân! Mới đầu hôm mà nó đã bỏ anh ở nhà một mình để đi chơi với Lâm Hoàng rồi. Nằm một mình xem ti vi mà thấy chán kinh khủng. Nói thế thôi, chứ thực ra, nó cũng có rủ anh đi cafe với Lâm Hoàng, nghe nói ở Quán Lào này cũng có mấy quán cafe hay ra phết, nhưng hôm nay Lâm Hoàng đang phải làm bài luận gì đấy mà cô ấy không thạo về vi tính nên lôi thằng Đông xuống làm. Nó bảo ra quán cafe làm luôn mà Lâm Hoàng không chịu, bảo không tập trung. Anh nể thằng bạn nên cũng bảo với nó là mệt, để cho nó xuống với người yêu.

Rút điện thoại ra xem lại những tấm ảnh anh chụp được hôm nay khi hai đứa thăm đền thờ ngài Khương Công Phụ. Cái con đường xuống Định Thành độ này người ta đang giải tỏa, còn khá ngổn ngang, đợt này các xã ở Yên Định đều mở rộng đường nên đi qua những đoạn đấy bụi kinh khủng. Từ thị trấn Quán Lào xuôi xuống Định Hòa, qua hết con đường đôi có hàng phượng già cổ thụ khoe những cành khẳng khiu trông khá hoài cổ. Đường được trải thảm đi êm êm rất sướng. Cái thằng Đông, suốt ngày ca ngợi đất Quán Lào, nào đẹp, nào sạch. Ừ thì cũng đúng là có vậy thật, nhưng bây giờ thị trấn nào chẳng sạch đẹp với những con đường trải thảm nhựa. Được cái tình yêu quê hương của nó quả là đáng nể trọng, ai đi xa mà chẳng nhớ thương da diết nơi chôn nhau cắt rốn, thằng Đông yêu quê nó ngay cả khi đang sống giữa vòng tay của đất mẹ quê hương!

Rẽ ngã ba Định Bình, dẫn hai đứa là con đường nhựa uốn giữa bức tranh xanh xanh hoa màu gió mát. Nắng vàng chiếu nhẹ trên những lưng trâu già đang gặm cỏ bên đường, những người nông dân gánh nước tưới những ruộng ngô mướt xanh rung rinh vẫy gọi. Anh chợt nhớ những ngày ở quê với cha mẹ làm đồng, những giọt mồ hôi lăn trên trán, chảy xuống má, xuống vai gáy, mệt mà lại cảm thấy vui vui, thích thú khi những cây ngô vụ đông được uống no căng tràn nước đẫm. 

Qua Định Hòa, sang đến Định Thành phải đi một đoạn khá xa mới đến được làng Tường Vân. Hỏi mấy đứa trẻ con bên vạt đường về làng Sơn Ôi như wikipedia chép mà chúng không biết, có lẽ nay người ta chỉ còn dùng tên mới pha nghĩa Hán Việt nên tên cũ lại trở nên ít phổ biến. 

Theo như sử sách chép thì ngài Khương Công Phụ và em trai Khương Công Phục là người gốc ở hương Sơn Ôi, xã Cổ Hiển, huyện Quân Ninh, Ái Châu mà nay là làng Tường Vân, xã Định Thành, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Ông nội của ngài Khương Công Phụ là thứ sử Ái Châu Khương Thần Dực. Khương Thần Dực sinh ra Khương Văn Đĩnh làm đến Huyện thừa Tiến sĩ. Khương Văn Đĩnh lại sinh ra 2 anh em Khương Công Phụ và Khương Công Phục. Ngài Khương Công Phụ sinh vào năm 731, mất năm 805, tên tự là Khâm Văn, ngài nổi tiếng khi là một tể tướng người An Nam dưới triều Đường Đức Tông. Cả hai anh em họ Khương ham học và đều đỗ đạt cao trong kỳ thi tuyển dụng hiền tài của nhà Đường vào năm 780. Đặc biệt, là người đỗ đầu trong kì thi này, Khương Công Phụ được vua Đường lúc ấy là Đường Đức Tông đặc cách, cho giữ chức Hiệu Thư Lang. Vì có bài chế sách hơn người, ông được cất cho làm Hữu thập di Hàn Lâm học sĩ, kiêm chức Kinh triệu hộ tào tham quân.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép lại câu chuyện can gián của Khương Công Phụ với vua Đường vào năm 784 quanh sự kiện tướng Chu Thử làm loạn. Nguyên văn như sau:

"...(Khương Công Phụ) từng xin giết Chu Thử, vua Đường không nghe. Không bao lâu Kinh sư có loạn, vua Đường từ cửa Thượng Uyển đi ra, Công Phụ giữ ngựa lại can rằng: "Chu Thử từng làm tướng ở đất Kinh đất Nguyên, được lòng quân lính, vì Chu Thao làm phản nên bị vua cất mất binh quyền, ngày thường vẫn uất ức, xin cho bắt đem đi theo, chớ để cho bọn hung ác đón được". Vua Đường đương lúc vội vàng không kịp nghe, trên đường đi lại muốn dừng lại ở Phượng Tường để nương nhờ Trương Dật. Công Phụ can rằng: "Dật tuy là bề tôi đáng tin cậy, nhưng là quan văn, quân đột kỵ ở Ngư Dương do ông ta quản lĩnh đều là bộ khúc của Chu Thử. Nếu Thử thẳng đến Kinh Nguyên làm loạn, thì ở nơi ấy không phải kế vạn toàn". Vua Đường bèn đi sang Phụng Thiên. Có người báo tin Thử làm phản, xin vua Đường phòng bị. Vua Đường nghe lời Lư Kỷ xuống chiếu cho quân các đạo đóng cách xa thành một xá, muốn đợi Thử đến đón. Công Phụ nói: "Bậc vương giả không nghiêm việc vũ bị thì lấy gì để oai linh được trọng. Nay cấm binh đã ít người mà quân lính người ngựa đều ở bên ngoài, thần lấy làm nguy cho bệ hạ lắm". Vua Đường khen là phải, cho gọi hết vào trong thành. Quân của Thử quả nhiên kéo đến, đúng như lời của Công Phụ. Vua Đường bèn thăng cho Phụ làm Gián Nghị Đại Phu, Đồng trung thư môn hạ bình chương sự..."

Sau này, cũng vì việc can gián vua chôn cất công chúa Đường An quá hậu không giống ý vua, ông bị giáng chức làm Thái tử tả thứ tử, bị phái đi Tuyền Châu biệt giá. Đường Thuận Tông lên ngôi, cho làm Thứ sử Cát Châu. Như vậy, từ một ông quan đầu triều, về cuối đời ông chỉ còn là viên quan ở một châu. Tuy nhiên, chưa đến được nơi nhậm chức thì ông đã mất.

Em ông là Khương Công Phục cũng là người tài giỏi, ông cũng làm đến chức Bắc Bộ thị lang.

Đền thờ Khương Công Phụ ở đây cũng như đền thờ cụ Lê Đình Kiên đều chưa được chính quyền và người dân quan tâm nên khá trầm lắng. Nghe như thằng Đông nói thì trước kia nó còn chẳng biết Khương Công Phụ là ai, khi nghe tên lại tưởng là một ông người Tàu nào đó. Thế mới thấy giá trị của việc giáo dục lịch sử địa phương có tầm quan trọng như thế nào.
Hai đứa lần được xe đến đền thờ, cái cổng đang được xây dựng dở, người ta còn để vật liệu khá ngổn ngang. Đến Yên Định, anh mới thấy mỗi đền thờ ngài quan Thái giám Ngọ Tư Thành là đẹp. Kể ra, đền thờ các danh nhân nổi tiếng mà sử sách còn phải ca ngợi thì cần được đầu tư, các trường học trên địa bàn ít nhất là trong huyện hoặc các xã gần bên nên dẫn học sinh đến tham quan để tôn vinh, nhờ đó học sinh sẽ biết, tự hào và nỗ lực phấn đấu học tập nhiều hơn để từ đó phát triển tốt bản thân mình. Buồn cười nhất là người ta lại đi đặt tên mấy ông thông minh, học giỏi, tài cao cho mấy cái trường bán công. Ở đây có trường THPT Hà Tông Huân, hay THPT Trần Ân Chiêm, đầu vào học sinh bán công khá thấp nên chất lượng học sinh còn kém nhiều so với các trường gốc, nhiều bề dày truyền thống như trường Yên Định 1 hay Yên Định 2, thành ra ấn tượng của người dân về hai con người ấy lại không được tốt, chả mấy khi họ nghĩ được là hai vị ấy xưa là bậc tài cao học rộng. Kể ra, mấy trường có truyền thống học tốt nên được đặt tên danh nhân, như ở huyện khác người ta đặt tên Lương Đắc Bằng, Mai Anh Tuấn hay Lê Lợi... May mà ở đây có trường chuyên cấp 2 đặt tên ngài Lê Đình Kiên thì còn thấy hợp.

Lại nhớ đến Hà Tông Huân, theo anh được biết thì ông cũng là người tài của Yên Định. Hà Tông Huân vốn là người ở làng Kim Vực, nay là làng Vàng, xã Yên Thịnh, cũng huyện Yên Định này.

Năm 1724 đời Lê Dụ Tông, ông tham gia khoa thi đình và đỗ bảng nhãn. Tiếc là khoa này không có trạng nguyên và thám hoa, nên ông đỗ thủ khoa, còn gọi là đình nguyên bảng nhãn. Chính vì vậy mà ngày ấy người ta vẫn quen gọi ông là ông Bảng Vàng, tức là bảng nhãn làng Vàng.

Hà Tông Huân ban đầu giữ chức Thị thư viện Hàn lâm, sau đó được giữ chức Đốc đồng Sơn Nam, tiếp đó ra trấn thủ An Quảng. Hà Tông Huân rất tài giỏi giải quyết các việc biên cương, đến nỗi người Trung Quốc cũng phải khuất phục.

Đầu thời Lê Hiển Tông (1740 - 1786), Hà Tông Huân được phong làm Tả thị lang bộ Hộ, ít lâu sau chuyển sang làm Phỏng sát sứ ở Tây đạo và Nam đạo.

Năm 1745, chúa Trịnh Doanh thăng Hà Tông Huân vào nội các, hỏi việc cơ yếu. Trịnh Doanh nghe các ý kiến của ông rất vừa ý, bèn cho làm Tham tụng trong phủ chúa, tước Kim Khê bá.
Ít lâu sau đó, Hà Tông Huân lại đổi sang ban võ quan, lĩnh chức Tham đốc nhưng vẫn đồng thời làm Tham tụng. Khi ông trấn thủ Thanh Hóa, có quân nổi dậy chống triều đình. Hà Tông Huân mang quân đi dẹp, nhờ ông nghiêm chỉnh đôn đốc quân đội nên nhanh chóng dẹp yên quân nổi dậy. Nhờ công lao này, ông được phong làm Thượng thư bộ Binh, vào triều làm Tham tụng, kiêm việc ở Quốc Tử Giám, tước Huy Xuyên hầu.

Năm 1760, tình hình Đàng Ngoài đã tương đối yên ổn, lúc này ông đã 64 tuổi, xin về nghỉ hưu, được gia thăng hàm Thiếu bảo, tước Huy quận công.
Khi đã nghỉ hưu, ông làm nhà bên sông và chiều chiều ra uống rượu, ngâm thơ, hòa mình với thiên nhiên và thân thiện với nhân dân trong vùng. Ít lâu sau Trịnh Doanh lại mời ông ra làm Ngũ lão cố vấn.

Ông mất tháng Giêng năm Cảnh Hưng thứ 27 (1766), thọ 70 tuổi. Sau khi ông mất nhân dân lập đền thờ ông. Có đôi câu đối của người xưa ca tụng tài đức của ông:

"Sự nghiệp tam khôi thần báo trước

"Văn chương bậc nhất được vua khen".

Học trò của ông đỗ đạt rất nhiều, khi ông nghỉ hưu đã có nhiều người thăng lên tướng phủ. Sử gia Phan Huy Chú nhận định về ông như sau:

"Ông bụng dạ thản nhiên, rộng rãi, không câu nệ nhỏ nhặt. Khi thi thố những việc to tát, việc gì cũng xong. Ở triều hơn 30 năm, trải làm tướng văn, tướng võ, công danh hiển hách. Lại thích tác thành người hậu tiến, học trò của ông đỗ đạt rất nhiều."

Đúng là càng tìm hiểu mới thấy, Yên Định quả là vùng đất địa linh nhân kiệt, thật đáng tự hào. Đang lướt trên màn hình smartphone, bất chợt anh lại nhìn thấy hình ảnh chụp cái khăn lụa trắng hôm trước. Điều kì lạ là, hôm trước đưa cho Đông xem thì lại ra bông hoa mẫu đơn đỏ tươi, hôm nay nằm trên ghế xem lại thì lại đúng chiếc khăn. Phải chăng?... Mà anh cũng không biết nữa. Sao lại nửa đêm, canh ba nhỉ? Hay là...

Theo như anh biết thì canh một là tầm 19h đến 21h tức là giờ Tuất, canh hai thì từ 21h đến 23h khuya tức là giờ Hợi, canh ba thì từ 23h đến 1h sáng hôm sau, tức là giờ Tý... anh lại mỉm cười, nhớ lại bài thơ của Hồ Chí Minh đếm các canh:

"Một canh, hai canh lại ba canh

Trằn trọc băn khoăn giấc chẳng lành

Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt

Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh."

Anh nhìn đồng hồ, mới có 20 giờ, còn quá sớm, chẳng lẽ đi ngủ, mà mắt cũng làm sao ngủ được, đặc biệt cái khăn này phải chăng nhắn nhủ anh điều gì, chứ chả lẽ lại là ngẫu nhiên. Xe máy thì thằng Đông phóng đi mất rồi, hôm trước lên Quán Lào bằng xe buýt nên giờ muốn lượn phố lại phải đi xe "căng hải" vậy. Anh chợt nhớ, phía sau nhà có dựng cái xe đạp mini Nhật, chắc của mẹ Đông dùng đi chợ. Anh xuống ngay, dắt lên sân trước, sau nghĩ lại lại thôi, tản độ ngắm phố Quán Lào cũng hay, dù gì cũng có tầm hơn cây số thôi mà. Khóa cửa lại và để chìa khóa vào phía trong cửa, như thằng Đông thường làm, anh đi về phía đường mà hôm qua hai đứa đã đi.

Đường Quán Lào về đêm nhìn đẹp ra phết. Chính quyền tô điểm thị trấn bằng đủ các loại đèn xanh đỏ giăng ngay ở khuôn viên trồng cây ngăn cách đường đôi, hai bên đường là đèn cao áp cộng thêm đèn sáng hắt ra từ các quán xá và nhà dân, làm cho con đường sáng tựa ban ngày. Hai bên lề đường, nhiều người dân chia nhau làm thành quán ăn vỉa hè gần ủy ban huyện, nào bánh khoai, ốc nóng, nào nước dừa, nước mía... khá đông đúc. Anh theo con đường phố thị, lần lại con đường mà trưa hôm qua Đông đã đưa anh tới. May thay, như có ma xui qủy dẫn, anh dễ dàng tìm lại được lối rẽ ra cánh đồng, nơi có khu cổ mộ. Nói thế chứ, tài nhớ đường của anh là số một rồi, anh đi đâu, chỉ cần qua một lần thì lần sau đi lại anh vẫn nhớ, chẳng như thằng Đông, lần nào xuống nhà anh, nó cũng đều phải hỏi đường.

Tò mò vô cùng, không biết vì sao mà anh có cảm giác tò mò, bồi hồi, anh nghĩ, cổ mộ có cái gì đấy làm cho anh bị cuốn hút. Anh cứ phân vân về chiếc khăn và mấy chữ Hán cổ có trên khăn. Phải chăng, mấy cái đó là để nhắn nhủ cho riêng mình. Nhưng mà, anh là người xa lạ giữa nơi đây, làm sao mà lại có thể như vậy được. Anh khẽ mỉm cười chính mình quá đa cảm, có thể anh nhìn vào và bị hoa mắt mà thôi. Anh lấy điện thoại ra xem, nghĩ thầm, nếu là bông hoa mẫu đơn thì sẽ quay về, còn... Trên màn hình điện thoại, vẫn tấm khăn lụa trắng muốt, sáng cả màn hình, trên đó rõ ràng vẫn là hình bốn chữ thêu:

"Đêm nay

Canh ba"

Rẽ sang đường đồng, ánh sáng gần như mất hẳn, anh phải lấy điện thoại ra, chiếu về phía trước để nhìn đường. Nhìn ngược về phía thị trấn, ánh đèn hắt lên chiếu sáng cả một vùng rộng lớn nhìn cũng lung linh. Anh tự cười, chẳng hiểu sao mình lại ra đây. Dù sao đó cũng chỉ là ảo giác, chứ cũng cái hình đấy, Đông và Lâm Hoàng đều nhìn ra bông hoa mẫu đơn, và khi anh nhìn kỹ cũng là như vậy kia mà. Dạo này anh ham mê đến các đền, chùa, phải chăng anh bị loạn cả tâm trí, giờ sinh ra bệnh tâm tưởng không biết chừng. Bên vạt đường, những đám cỏ đầu đông khô cháy vàng xơ xác hiện lên qua ánh đèn led từ điện thoại, nhìn buồn u ám. Hay quay về? Chẳng lẽ? Mà thôi, khu cổ mộ đã hiện ra ngay phía trước.

Nghe thằng Đông nói, vào ban đêm người ta thường nghe thấy tiếng đàn hát của một ma nữ áo trắng, xõa tóc ngay ở trên cành hoa gạo ngoài cổ mộ, nhưng anh nào có thấy gì đâu. Ngoài đó, hình như cũng hắt lên ánh đèn leo lét từ song cửa. Hàng cây rì rào, um tùm che kín bên trong. Mái ngói cong cong in lên nền trời tựa như mũi con thuyền đang dướn mình vươn lên cao. Kiểu mái này khá phổ biến ở các đình chùa Bắc bộ thời Lê, cái này anh biết. Nếu không nhầm, ngói ở đây người ta sẽ lợp loại bằng đất nung hình vẩy cá, kiểu này cổ kính mà rất đẹp. Ơ, hình như có gì đó sai sai? Hôm qua anh đi với thằng Đông ra khu cổ mộ đâu có nhà cửa, đền chùa gì mà bỗng dưng hôm nay lại có. Anh nghĩ, chắc hẳn là ma rồi. Ôi, vui quá, từ nhỏ đến giờ mơ ước một lần được gặp ma, nay đã thỏa lòng mơ ước. Hi vọng là sẽ được thỏa ý, vì lâu nay xem phim kinh dị nhưng không thể tin cái bọn làm phim phịa ra các hình ảnh ma quái đó được.

Càng đến gần, ánh sáng từ phía trong càng sáng. Nhìn rõ được qua cái cổng nhà khá cổ kính, một khu nhà bên trong trông thật đẹp. Anh định ngó vào trong thì bất ngờ có tiếng một người đàn ông cất lên từ phía sau:

- Cậu kia, làm gì đấy?

Anh quay ngoắt ra phía sau, chắc hẳn là một con ma nào đó, nhưng không, một bác trai tầm khoảng hơn 50 tuổi, đang đội cái đèn pin bắt ếch trên đầu, tay còn cầm theo cái đèn tích điện mặt trời, nay đã bật sáng trưng, trông rất rõ.

- Dạ, cháu...

Anh lúng túng, không biết trả lời sao. Người đàn ông này ngay trước mắt trông rất bình thường như bao người khác, có lẽ ông mới đi bắt ếch về nên nhìn khá luộm thuộm. Bác ta mặc cái áo bộ đội cũ đã sờn vai, quần xắn lên ống cao, ống thấp màu đen pha với màu đất vàng.

- Đây là nhà riêng, không được xâm phạm! Nếu không ta báo công an đến gô cổ lại bây giờ.

Phong hơi ngạc nhiên. "Ơ! Chả lẽ..." anh cũng không giữ được miệng nên cũng hỏi lại ngay:

- Cháu tưởng đây là cổ mộ!

- Vớ vẩn, hay định vào ăn cắp gì sao?

- Tuyệt đối không phải đâu bác, đúng là cháu có hẹn đến đây!

- Thật sao? Ông trố mắt lên ngạc nhiên. Cậu tên là gì?

- Dạ thưa, cháu là Phong, không tin bác xem chứng minh thư của cháu này!

Phong rút ví từ túi quần sau, đưa chứng minh thư cho ông. Ông mỉm cười sau khi xem kỹ rồi nói:

- Được rồi! Tôi là Hào, bảo vệ khu nhà này. Ai hẹn cậu đến à?

Ông ta nay đã dịu nên nhẹ nhàng hỏi anh. Anh trả lời thành thực:

- Dạ, không phải là ai hẹn cả, cháu có nhìn thấy cái khăn, có chữ hẹn, bác xem này!

Phong đưa điện thoại ra cho ông ta nhìn hình ảnh cái khăn có thêu bốn chữ Hán. Ông ta nhìn vào rồi lắc đầu:

- Chữ Hán thì tôi chịu, ngày xưa tôi làm nghề hàng xáo, chả quan tâm chữ nghĩa gì cả.

- Hàng xáo...?

Ông ta nhìn vào Phong, rồi chỉ ra phía đằng sau. Anh quay lại theo bản năng. Thì ra ánh đèn pha xe máy, rọi thẳng vào mắt làm anh chói cả mắt, có thấy gì đâu. Ngó nghiêng mãi, thấy một người từ xe bước xuống. Trời, hóa ra là thằng Đông.

- Mày làm gì mà tao gọi mãi m không nghe?

- Gọi bao giờ? Anh hỏi lại.

- Thế mày không để ý chuông điện thoại à?

- Có thấy cuộc gọi nhỡ đâu.

Anh mở lại điện thoại, thì ra có mười mấy cuộc gọi nhỡ của Đông còn hiện ra trên máy. 

- Chắc tao để chế độ im lặng nên không nghe!

- Mày ra đây làm gì, chắc lại nghiên cứu về cổ mộ hả? - Đông cười đùa. 

Anh quay lại định nói về ông Hào và khu nhà cổ kính này, nhưng chẳng còn thấy gì. Trước mắt anh là hình ảnh khu cổ mộ, chỉ khác là nó ẩn hiện trong ánh đèn xe máy mà thôi. Vậy thì, những hình ảnh lúc trước anh nhìn thấy hóa ra chỉ là ảo giác hay sao...

Hai người đi chậm trên con đường làng. Lòng anh băn khoăn quá, chẳng lẽ đúng là anh mới gặp ma. Có điều ma sao như người vậy, cũng hiển hiện ra nói chuyện như thường. Nếu Đông không đến, chắc hẳn anh đã đi sâu vào cổ mộ kia rồi...

Ra đến đường phố, ánh đèn điện bây giờ chỉ còn chiếu từ mấy cây cao áp xuống. Đèn xanh đỏ về khuya người ta đã tắt, chắc để tiết kiệm điện, nhưng dù sao vẫn sáng hơn nhiều so với ngoài đồng kia. Anh quay sang hỏi Đông:

- Hàng xáo là nghề gì mày?

- Ôi trời, thế mà cũng hỏi. Là mua lúa trong dân đem đi xát thành gạo rồi bán cho người ta chứ có gì đâu. Tự dưng sao hỏi?

- Vừa rồi, tao có gặp một bác, bác ấy bảo trước kia làm hàng xáo mà tao không biết!

- Gớm quen nhanh thế, gặp ở đâu?

- À, ngay lúc nãy này, bác ấy tên là Hào.

- Trời ơi, ông Hào, khi còn sống ông ấy làm nghề hàng xáo. Mày gặp ma rồi!

Đọc tiếp: Chương 7