Người trên phố

Người trên phố

Xôi Gấc 2017-07-04 21:01:08 97 9 10 0

Có những người đi qua nhau trên phố, như những cơn mưa rào. Cơn mưa dù có tạnh vẫn vương lại trên vạt áo chút quá khứ của những ngày không xa lắm.


Đêm trước hôm rời Phố, tôi không tài nào chợp mắt được. Bên ô cửa sổ bắt đầu ướt đẫm vạt sương trắng phủ, bóng cây đèn đường hắt lên những vệt sáng vàng vọt và xanh xao. Xa xa, tiếng ga tàu đi xuyên qua màn đêm phẳng lặng, dội từng hồi về một miền lãng đãng. Có cơn gió thổi ngược hướng ánh nhìn, mắt cay cay.

Tôi đến Phố vào những ngày mưa dông, cái nắng giòn tan được thế chân bởi nền trời xám xịt, gió bớt nóng, chút hơi lạnh san sẻ sang mọi thứ xung quanh, đêm được chia phần nhiều, lòng lại càng chạnh lại. Phố vắng người. Phố lặng thinh. Nỗi cô đơn bỗng chốc trở lên to lớn hơn bất cứ điều gì. Tôi trở người trong căn phòng vẫn còn mùi cũ, lắng nghe tiếng róc rách từ mái hiên, lắng nghe cả tiếng kí ức dội về từng mảnh ghép. Đêm đầu tiên trong Phố, tôi cũng chẳng thể chợp mắt. Cũng có cơn gió lạc ngược hướng mắt nhìn, đèn đêm lờ mờ trong gió, tiếng ga tàu chẳng thoát nổi cơn mưa. Ra thất tình là như thế.

Phố những ngày ấy nhiều trăn trở. Tôi thường đi từ sáng sớm, đến tối muộn mới về. Phố gần biển, cách một chuyến xe. Có những đêm khuya tôi còn lang thang trên bãi cát, chỉ để nhìn ngắm màu xanh từ vài ánh đèn hắt ra trên những chiếc thuyền bắt mực, những đêm như thế dù lòng buồn thì biển cũng không buồn, tôi ngắm cái không buồn đấy từ biển, cố biến nó thành cái riêng của mình. Nỗi buồn cũng vơi đỡ đi chút ít.

Hôm ấy cũng là một đêm biển không buồn trên Phố. Sóng va vào dải đá liên hồi, tiếng những hòn đá nhỏ khẽ chạm vào nhau rồi mắc lại đâu đó đợi chờ đợt sóng tiếp. Cuối dải đá san hô, phía bên trên mỏm mũi đất hướng đầu ra biển, tiếng ghi ta ngược chiều gió thổi giữa không gian rộng lớn, nghe mơ hồ và khắc khoải. Tôi ngồi kế bên, dậm nhịp vu vơ, bỏ quên cả chuyến xe cuối cùng về Phố. Đêm ấy là đêm đầu tiên tôi ở lại biển, cũng là ngày tôi quen người bạn đầu tiên ở Phố. Cậu tên Nhân, hơn tôi một tuổi, nhưng chúng tôi xưng hô với nhau theo cách thoải mái nhất.

Nhân cao và gầy, ánh mắt cậu mang một nỗi buồn sâu thẳm, nhiều lần vô tình chạm vào đôi mắt ấy, nỗi buồn trong tôi chợt trở nên bé nhỏ. Nhân ít nói, chẳng bao giờ tôi thấy cậu kể về bản thân mình, có đôi lần Nhân nói mơ hồ về những chuyện cậu từng trải qua, nhưng chẳng rõ ràng về một điều gì hết, mỗi lần như vậy, đôi mắt Nhân lại buồn hơn một chút và nỗi buồn của tôi cũng vì thế mà bé lại một chút. Những ngày quen Nhân, Phố bỗng mang một màu gì đó khác lạ vô cùng.

Chúng tôi hay uống cà phê ở quán Xưa, quán nhỏ nhưng không vắng, quán đông nhưng không mấy ồn ào. Mỗi lần tới Xưa, khách sẽ được phát một tờ giấy nhớ, trên giấy có in sẵn một dòng chữ nhỏ: “Cho tôi xin Nỗi Buồn”. Cũng chính vì thế mà bức tường phía trước cửa quán, ngay lối đi vào người ta dán đầy giấy đủ màu sắc. Tờ giấy đầu tiên chúng tôi viết đã bị chèn lên bằng nhiều tờ giấy khác, nhưng chúng tôi vẫn dễ dàng tìm ngay được. Trên đấy dòng chữ của Nhân ghi đã hơi nhòe: “Chúng tôi bán nỗi buồn chứ không cho”. 

Nhân thích uống cà phê đen nóng và không có đường, Nhân nói cậu thích cái vị nguyên sơ của cà phê. Màu đen, vị đắng đó mới chính là cà phê. Vì thế chúng tôi hay gọi phin, tôi thì cần thêm ngọt. Nhân đùa rằng: “Người ta muốn quên vị đắng cố hữu của cà phê mới dùng thêm sữa, thêm đường”. Dù là vậy thì cậu vẫn quen độ ngọt tôi thường dùng. Nhân thường nhận thêm sữa vào cốc cho tôi. Vừa vặn, không hơn không kém.

Trong khi chờ đợi phin đổ đầy cốc, tôi sẽ kể cho Nhân nghe về những chuyện ngày thường. Nhân vốn vậy, không bao giờ tỏ ra chán nản, cũng chẳng bao giờ tỏ ra thích thú với những điều tôi kể. Những ngày đầu mới biết Nhân, điều đó làm tôi không mấy hứng thú. Sau này quen dần, tôi biết cậu hào hứng nghe nhiều, nhưng không biết cách, hoặc cũng có thể là không muốn tỏ ra vui vẻ như những người khác. Điều đó làm nên cái đặc biệt ở cậu.

Nhân ít cười, những lần hiếm hoi đó là khi thấy tôi làm điều gì ngốc nghếch, như: “Tớ chẳng biết mình đang ở đâu, hình như chuyển sang đứng bên trái mặt trăng rồi.” 

Đêm rằm, mặt trăng tròn vành vạnh. Ánh sáng yếu ớt thấm đẫm cả tán cây sồi già trước đầu đường chờ xe buýt. Tối hôm ấy tôi có hẹn với Nhân, cậu đến muộn. Lúc chuẩn bị ra về, tôi thấy bóng Nhân đổ dài trên con đường sâu hút, tay cậu mang một bó hoa oải hương tím biếc. Oải hương không mọc ở Phố, muốn có oải hương phải qua Phố khác. Phố cách Phố cả mấy chuyến xe, nên việc Nhân trễ hẹn cả vài tiếng không làm tôi thấy bực bội. Hôm đó Nhân đưa tôi tới biển. Lần đầu tiên tôi thấy Nhân nói rất nhiều về một người đã cũ. Rằng người cũ đã đi vào một đêm xa xôi lắm, ngày mà mặt trăng cũng tròn vành vạnh, người cũ thích nghe đàn ghi ta, người cũ thích biển, nhất là những đêm biển trằn trọc tới tận khuya, sóng vỗ dạt vào bờ những viên sỏi nhỏ, người cũ thích cà phê đắng, thích cả cánh li ti ngan ngát của oải hương. Người cũ đã lâu rồi đâu còn ở Phố. Tôi thả bó oải hương Nhân tặng xuôi theo chiều sóng. Đêm thứ hai tôi ở biển, tay nắm chặt người bạn đầu tiên. Phố những ngày ấy có vị mặn đến tái tê lòng.

Những ngày về sau, tôi thường gặp Nhân lúc sáng sớm trước hiên nhà, đặt tôi trước cửa công ty cậu mới quay về nhận lớp. Tối, tôi với Nhân thả bộ trên con đường cạnh Xưa. Nhân cười nhiều hơn trước. Đôi khi chỉ là vu vơ. Cho đến tận bây giờ tôi chẳng thể quên được nụ cười ấy, ấm áp vô cùng. Những ngày này, Phố chuyển mùa, Phố thoang thoảng vị oải hương, Phố trót in hình người chơi ghi ta bên sóng.

Nhưng rồi Phố lại mặn. Mặn từ một hôm cạnh biển, tôi ngồi kế Nhân, bật đoạn nhạc tôi thường nghe mỗi tối. Bất giác cậu gọi nhầm tên tôi thành người cũ. Đêm thứ 3 tôi ở lại biển, sóng cuộn dữ dội, gió thổi về từ nơi xa, lạnh đến chạnh lòng.

Hôm trước khi rời Phố, tôi có gửi tặng Nhân những mầm oải hương đang nảy. Chỉ mong oải hương sẽ sống, mong cho Phố sẽ có oải hương...